Kỹ thuật trồng cây khoai tây vụ đông

01/01/2022 15:41

Sau mỗi vụ thu hoạch lúa mùa, thời gian để đất trống khá dài, vì vậy người dân thường tận dụng đất trống để trồng cây như rau, củ,… Việc tận dụng quỹ đất với phương châm “không cho đất nghỉ” vừa để cải thiện bữa ăn cho gia đình, nâng cao sức khỏe đảm bảo mang lại nguồn thu nhập, giúp bà con nông dân nâng cao chất lượng cuộc sống.

Trồng cây vụ đông được Đảng và Nhà nước chú trọng, vào tháng 9 vừa qua, Bộ NN&PTNT tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả sản xuất vụ Đông 2020 và triển khai kế hoạch vụ Đông 2021 theo hình thức trực tuyến đến điểm cầu 31 tỉnh phía Bắc. Với mục tiêu ổn định diện tích cây vụ đông, nâng cao giá trị sản phẩm, các đại biểu tham dự hội nghị đã tập trung thảo luận về giải pháp triển khai sản xuất vụ Đông 2021 theo hướng hàng hóa, chất lượng, hiệu quả, nâng cao chuỗi giá trị, theo hướng đa dạng hóa.

Tại tỉnh Hà Giang, diện tích cây vụ đông 2020 đạt 11.040,4ha, tổng giá trị đạt 218 tỷ 351,8 triệu đồng, trong đó, một số mô hình cây vụ đông đạt hiệu quả kinh tế cao như: Trồng ngô sinh khối gắn với liên kết, tiêu thụ sản phẩm tại các huyện Vị Xuyên, Quang Bình; trồng Tam giác mạch tại 4 huyện vùng Cao nguyên đá phục vụ du lịch; sản xuất rau an toàn trong nhà lưới tại các huyện Yên Minh, Vị Xuyên, thành phố Hà Giang với các cây như Su su, Cải mèo, Súp lơ, Khoai tây, Cải thảo, Su hào, Bắp cải, Củ cải… đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, đem lại thu nhập đáng kể cho người nông dân. Trong các cây có thể trồng vụ đông, cây khoai tây là một trong những cây dễ trồng, dễ chăm sóc và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Sau đây là kỹ thuật trồng và chăm sóc cây khoai tây đạt năng suất cao chất lượng tốt.

Thời vụ: Khoai tây là cây ưa lạnh nên trồng vụ đông là rất thích hợp, trong khoảng thời gian từ 20/10 - 20/11 hằng năm.

Về giống: Các giống Khoai tây phổ biến hiện nay đang được trồng nhiều là:  Marabel, Solara có nguồn gốc từ Đức; giống khoai tây Atlantic, Diament có nguồn gốc từ Hà Lan và khoai tây VT2 có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Chuẩn bị đất: Chỉ trồng trên đất tơi xốp, thịt nhẹ, được cày bừa tơi mịn; bón khử khuẩn bằng vôi bột + 1 Diazan, tiến hành lên luống đơn với chân đất thịt nhẹ, thuận tiện cho tưới tiêu, luống xẻ rãnh sâu 10 - 15cm chính giữa luống, bỏ toàn bộ phân bón lót theo hốc cách nhau 30 - 35cm và lên luống đôi với chân đất cát pha, xẻ hai rãnh song song cách nhau 35 - 40cm, cách mép luống 30cm, bỏ toàn bộ phân bón lót theo hốc cách nhau 30 - 35cm, so le nhau.

Mật độ trồng và xử lý giống:

Lượng giống trung bình 830 - 1100 củ/ha, với củ nhỏ, mỗi 1m2 trồng khoảng  từ 5 - 10 củ, khoảng cách 17 - 30cm, tùy củ to hoặc nhỏ lựa chọn khoảng cách phù hợp. Nếu củ nhỏ để nguyên củ trồng; nếu củ nhỡ hoặc to thì dùng dao sắc để bổ khoai thành đôi hoặc ba; chuẩn bị chậu nước vôi trong hoặc nước xà phòng đặc và một ít xi măng bột, nhúng dao vào nước vôi trong hoặc nước xà phòng đặc trước mỗi lần bổ củ rồi tùy theo cỡ củ to nhỏ mà tiến hành bổ dọc sao cho mỗi miếng bổ có từ 2 - 3 mầm. Bổ xong chấm ngay phần cắt vào bột xi măng khô và gạt nhẹ để bột xi măng chỉ bám một lớp mỏng. Sau đó chọn nơi khô thoáng, rắc vôi bột khử trùng lên nền đất ủ giống, rải một lớp rơm hơi ẩm dày khoảng 2 - 3cm rồi xếp 1 lớp củ giống, rải lớp rơm hơi ẩm phủ kín giống, nếu trời rét thì phủ bên trên chăn mỏng, bao tải nhẹ (không được để củ đã bổ thành đống sẽ dễ bị thối). Sau thời gian từ 1 ngày đến tối đa là 1 tuần thì đưa ra ruộng trồng, trước khi trồng cần đảm bảo luống vừa đủ ẩm, nếu đất quá ướt, phải chờ đến khi đất ráo, nếu đất quá khô, phải tưới nước cho đất ẩm rồi mới bắt đầu trồng.

Bón phân:

Lượng phân bón bình quân cho 1ha: Phân chuồng loại mục: 15 - 20 tấn; đạm urê: 250 - 300kg; lân supe: 350 - 400kg; kali clorua: 150 - 200kg. Chú ý: tùy thuộc vào chất đất có thể điều chỉnh lượng phân bón cao lên hoặc thấp đi.

Bón lót: Rải phân chuồng và lân, đạm, kali lên trên mặt luống giữa hai hàng khoai, phủ một lớp đất mỏng 3 - 5cm lấp kín phân. Tiếp đó, đặt củ giống vào khoảng giữa hai chỗ bỏ phân sao cho củ cách củ từ 30 - 35cm (không để củ giống tiếp xúc với phân), có thể phủ luống khoai tây bằng chất liệu hữu cơ như: Rơm, rạ hoặc mùn mục để tạo độ tơi xốp cho đất, giúp cho việc trao đổi chất dễ dàng hơn. Khi trồng cần đảm bảo luống vừa đủ ẩm, nếu đất quá ướt, phải chờ đến khi đất ráo, nếu đất quá khô, phải tưới nước cho đất ẩm rồi mới bắt đầu trồng.

Bón thúc lần 1: Sau khi cây mọc cao khoảng từ 15 - 20 cm, chuẩn bị phân đạm trộn với kali. Bón vào mép luống hoặc giữa 2 khóm khoai, không bón trực tiếp vào gốc cây vì dễ làm cây chết.

Bón thúc lần 2: Bằng phân đạm với kali, sau bón thúc lần 1 từ 15 - 20 ngày.

Chú ý: Nên bón lót nhiều phân kali cho củ to, mẫu mã đẹp. Và chỉ sử dụng phân chuồng hoai mục để bón (không bón phân chuồng tươi vì có nhiều vi khuẩn nấm bệnh làm cho mã củ không đẹp và khoai dễ bị thối).

Chăm sóc

Xới đất, làm cỏ, vun gốc:

Khi cây mọc lên khỏi mặt đất 7 - 10 ngày, cao khoảng 15 - 20cm tiến hành chăm sóc lần 1 bằng cách xới nhẹ, làm sạch cỏ, bón thúc đợt 1 rồi vun luống, kết hợp tỉa cây để lại 2 - 3 mầm chính. Cách lần 1 từ 15 - 20 ngày, tiến hành tưới nước lần 2 kết hợp xới nhẹ, làm cỏ và vun luống lần cuối, lấy đất ở rãnh vun cho luống to và cao, dày cố định luôn, vun luống không đủ đất sẽ làm vỏ củ bị xanh hoặc mọc thành cây.

Tưới nước: Nước là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng khoai nên phải chú ý thường xuyên để luôn giữ đủ độ ẩm cho đất, nhất là giai đoạn phình củ (nếu quá ướt khoai dễ bị nấm bệnh) và dừng tưới nước 15 ngày trước khi thu hoạch.

Ngoài ra, để dinh dưỡng tập trung nuôi dưỡng củ thì sau khi trồng từ 68 - 70 ngày phun kali trắng KH2PO4 với liều lượng 0,2 kg/bình 16 lít. Tiếp tục phun kali trắng lần 2 nếu sau 7 ngày cây khoai tây chưa vàng lá.

Phòng trừ sâu bệnh.

Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng và khuyến khích áp dụng các biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp, nên sử dụng giống cây trồng kháng bệnh, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, kỹ thuật làm đất, bón phân, luân xen canh cây trồng hợp lý, chú ý vệ sinh đồng ruộng...

Cần đặc biệt chú ý các loại sâu chính hại khoai tây là sâu xám, nhện trắng, bọ trĩ, rệp, sâu hà khoai tây và các bệnh chính hại khoai tây như: Bệnh vi rút xoăn lùn, vi rút khảm, vi rút cuốn lá (PLRV), héo xanh, mốc sương. Dùng các loại thuốc đặc hiệu để phòng trừ theo đúng hướng dẫn trên bao bì của từng loại thuốc. Đặc biệt chú ý khi sử dụng thuốc phải theo nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng lúc, đúng cách và đúng nồng độ, liều lượng).

Thu hoạch và bảo quản:

Tiến hành thu hoạch khi khoai đủ từ 80 - 85 ngày sẽ có năng suất và chất lượng tốt. Khi thấy lá vàng, cây rạc dần thì tiến hành thu hoạch vào ngày thời tiết khô ráo. Cần chọn lọc và phân loại các củ to, nhỏ và bảo quản ở nơi khô, tối và thoáng khí, đồng thời loại bỏ củ bị dập, củ không còn nguyên vẹn. Đóng gói khoai thương phẩm trong bao bì và vận chuyển đến nơi tiêu thụ.

 

Bản tin KH&CN Hà Giang (số 3/2021)