Chuyển đổi số tạo nền tảng xây dựng kinh tế số nông nghiệp

01/01/2022 15:35

Nông nghiệp được xem là lĩnh vực nền tảng, trụ đỡ của nền kinh tế tỉnh Hà Giang. Nhằm nâng cao giá trị ngành nông nghiệp, thời gian qua, Tỉnh ta đã tổ chức Hội thảo chuyển đổi số (CĐS) và kí kết đẩy mạnh CĐS trên lĩnh vực này. Kỳ vọng đưa Hà Giang đến năm 2030 trở thành địa phương phát triển khá trong khu vực Trung du miền núi phía Bắc và đến năm 2045 là tỉnh có kinh tế - xã hội trung bình khá của cả nước.

Hiện nay, vẫn chưa có được một định nghĩa rõ ràng về CĐS vì quá trình áp dụng CĐS sẽ có sự khác biệt ở từng lĩnh vực khác nhau. CĐS đóng một vai trò quan trọng trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tuy nhiên, để có thể định nghĩa một cách ngắn gọn và dễ hiểu thì CĐS (Digital transformation, viết tắt DT) là việc vận dụng tính luôn đổi mới, nhanh chóng của công nghệ kỹ thuật để giải quyết vấn đề. Khái niệm này được ra đời trong thời đại bùng nổ Internet, mô tả những hoạt động đổi mới một cách mạnh mẽ và toàn diện trong cách thức hoạt động của toàn doanh nghiệp, ở tất cả những khía cạnh như cung ứng, sản xuất, hợp tác, mối quan hệ khách hàng hoặc thậm chí là tạo ra những doanh nghiệp mới. CĐS cũng là một sự thay đổi về văn hóa của các doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục thay đổi, thử nghiệm cái mới và thoải mái chấp nhận các thất bại.

Tại Việt Nam, khái niệm “Chuyển đổi số” thường được hiểu theo nghĩa là quá trình thay đổi từ mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số bằng cách áp dụng công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet cho vạn vật (loT), điện toán đám mây (Cloud)... nhằm thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty. Không chỉ có vai trò quan trọng tại các doanh nghiệp mà CĐS còn đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực khác của xã hội như chính phủ, truyền thông đại chúng, y học, khoa học...

Ngày 3/6/2020, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg về Chương trình CĐS quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, nông nghiệp được xác định là một trong những ngành ưu tiên CĐS. Chương trình CĐS quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu, với mục tiêu cơ bản cụ thể đến năm 2025 nhằm phát triển Chính phủ Số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động: 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; 90% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); 100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu tổng hợp báo cáo định kỳ và báo cáo thống kê về kinh tế - xã hội phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu số trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ; 100% cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử bao gồm các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm được hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc; từng bước mở dữ liệu của các cơ quan nhà nước để cung cấp dịch vụ công kịp thời, một lần khai báo, trọn vòng đời phục vụ người dân và phát triển kinh tế - xã hội; 50% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý; Việt Nam thuộc nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI). Phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 7%; Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI) và chỉ số cạnh tranh (GC1); Việt Nam thuộc nhóm 35 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo (GI1). Phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số: Hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình, 100% xã; phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử trên 50%; Việt Nam thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI).

 Tại Hà Giang, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025, xác định thực hiện 03 khâu đột phá trong đó có mục tiêu về hạ tầng giao thông; phát triển du lịch, nông nghiệp; tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho nhân dân và Nghị quyết số 04 về phát triển bền vững cây cam sành trên địa bàn tỉnh; Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành các Nghị quyết về chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế vườn hộ và phát triển bền vững cây cam sành trên địa bàn, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai Đề án cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ, tạo sinh kế cho người dân và Đề án phát triển bền vững cây cam sành trên địa bàn tỉnh... Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp sạch với quy mô phù hợp theo tín hiệu thị trường, phát huy các sản phẩm thế mạnh của tỉnh như: Chè Shan tuyết, cam Sành, mật ong Bạc hà, thịt bò vàng Cao nguyên đá… sản xuất thành hàng hóa, gắn với chương trình OCOP mỗi xã một sản phẩm. Ứng dụng công nghệ số để tự động hóa các quy trình sản xuất, kinh doanh; quản lý, giám sát nguồn gốc, chuỗi cung ứng sản phẩm, bảo đảm nhanh, minh bạch, chính xác, an toàn vệ sinh thực phẩm, thúc đẩy sản xuất hàng hóa và mở ra cơ hội phát triển nhanh, bền vững cho nông nghiệp là mục tiêu ngành Nông nghiệp Hà Giang đang hướng tới.

Để tạo tiền đề hình thành CĐS, kinh tế số trong lĩnh vực nông nghiệp, thời gian qua, ngành nông nghiệp Tỉnh đã chủ động xây dựng hệ thống thông tin khoa học công nghệ phục vụ ngành nông nghiệp nhằm cung cấp thông tin phục vụ công tác chỉ đạo điều hành, tuyên truyền, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp tra cứu… góp phần đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nông, lâm nghiệp, thủy sản theo biểu thống kê và bản đồ trên nền tảng số. Đồng thời, quan tâm ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, ngành đã kịp thời tham mưu cho các cấp lãnh đạo của tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ hàng trăm doanh nghiệp nông nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, xây dựng thương hiệu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, cấp chứng chỉ quản lý chất lượng và các công cụ cải tiến năng suất, chất lượng sản phẩm; hỗ trợ trong truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu sản phẩm thông qua chương trình OCOP, phát triển thương mại điện tử. Cùng với đó, trên địa bàn tỉnh cần hình thành nhiều hơn các vùng sản xuất rau quả, chăn nuôi an toàn theo quy trình VietGAP; các cơ sở hình thành chuỗi liên kết chế biến, tiêu thụ, góp phần tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác; đưa một số sản phẩm có thương hiệu như: Chè Shan tuyết, cam Sành, mật ong Bạc hà, thịt bò vàng Cao nguyên đá.

Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ, CĐS trong sản xuất nông nghiệp tại tỉnh vẫn còn manh nha và mới mẻ. Thực tế cho thấy, ở lĩnh vực trồng trọt, phương thức sản xuất truyền thống vẫn rất phổ biến, chủ yếu dựa vào sức lao động của con người. Các mô hình nhà màng, nhà lưới, ứng dụng công nghệ chăm sóc, tưới tự động vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay, đa số mới chỉ ứng dụng ở một số khâu nhất định. Hay như việc sử dụng mạng xã hội đế kết nối thị trường, tiêu thụ nông sản thời gian gần đây đang được nhiều tổ chức, hợp tác xã, hộ sản xuất, kinh doanh cá thể khai thác nhưng tất cả cũng chỉ dừng ở khâu chào hàng, giới thiệu sản phẩm, khi người tiêu dùng muốn truy xuất nguồn gốc rất ít sản phẩm đáp ứng được yêu cầu này.

Để lĩnh vực nông nghiệp bắt nhịp công cuộc CĐS, tỉnh Hà Giang cần từng bước ứng dụng công nghệ số nhằm tự động hóa các quy trình sản xuất kinh doanh; quản lý, giám sát nguồn gốc, chuỗi cung ứng sản phẩm đảm bảo nhanh chóng, chính xác, an toàn, vệ sinh thực phẩm; thực hiện CĐS trong công tác quản lý; đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử trong nông nghiệp... Tập trung hỗ trợ đầu tư chăn nuôi lợn, hỗ trợ đầu tư vùng sản xuất rau, củ, quả, hoa... an toàn theo quy trình VietGAP; hỗ trợ trồng cây dược liệu; tiếp tục hỗ trợ nông dân ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào cây trồng vật nuôi có lợi thế, hướng tới sản xuất nông sản hàng hóa có giá trị kinh tế cao; ưu tiên hỗ trợ đào tạo, dạy nghề, bồi dưỡng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới cho nông dân, từng bước giúp người nông dân hình thành các mối liên kết trong cung ứng giống, vật tư nông nghiệp. Từ đó, xây dựng vùng nông nghiệp công nghệ cao, xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm để mở rộng thị trường trong nước và hướng đến thị trường xuất khẩu.

Bản tin KH&CN Hà Giang (số 3/2021)