Thứ sáu, Ngày 28 Tháng 2 Năm 2020

Bản tin Khoa học và Công nghệ

Nghiên cứu tuyển chọn, phát triển cam Sành không hạt hoặc ít hạt và nâng cao năng suất, chất lượng cam Sành tại Hà Giang

12/09/2019 15:56

Cam Sành (C.reticulata x C.sinensis) là loại cây ăn quả gắn liền với đời sống của bà con nhân dân Hà Giang. Hiện nay cam Sành Hà Giang đã có thương hiệu trên thị trường trong nước và được xác định là cây mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Hà Giang nói chung và ba huyện Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên nói riêng.

Cam Sành Hà Giang.

Tuy nhiên, cam Sành còn khá nhiều nhược điểm tồn tại như: Năng suất và chất lượng không ổn định, mẫu mã quả xấu. Bên cạnh đó sự phát sinh của một số đối tượng sâu bệnh nguy hiểm, đặc biệt là bệnh do virus gây ra, do đặc điểm địa hình, tập quán canh tác truyền thống với kỹ thuật trồng trọt theo kinh nghiệm,… đã khiến nhiều vườn cam Sành bị suy thoái nghiêm trọng, diện tích trồng ngày càng bị thu hẹp. Ngoài ra, cam Sành tại Hà Giang còn bị hạn chế bởi cam có số hạt/quả lớn (25 - 30 hạt/quả) nên giá bán không cao so với một số giống cam, quýt khác. Mặt khác do diện tích trồng lớn và thời điểm thu hoạch khá tập trung nên hiện tượng được mùa mất giá thường xuyên xảy ra gây ảnh hưởng đến tâm lý người trồng. Vì vậy, để nâng cao giá trị của cây ăn quả có múi ở Hà Giang cần phải nâng cao chất lượng cam Sành bằng cách tuyển chọn những cá thể ít hoặc không hạt nhân nhanh cho sản xuất và hoàn thiện quy trình kỹ thuật giúp nâng cao năng suất, chất lượng cam Sành, do đó việc thực hiện: “Nghiên cứu tuyển chọn, phát triển cam Sành không hạt hoặc ít hạt và nâng cao năng suất, chất lượng cam Sành tại Hà Giang” là hết sức cần thiết.

Với mục tiêu tuyển chọn, nhân nhanh được giống cam Sành không hạt hoặc ít hạt, tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt; xây dựng mô hình khảo nghiệm các dòng/giống cam Sành ít hạt được nhân từ các giống cam Sành ít hạt đã tuyển chọn; hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cam Sành tại Hà Giang. Đề tài đã thực hiện điều tra thu thập, đánh giá, tuyển chọn các biến dị quả không hạt hoặc ít hạt có sẵn trong tự nhiên ở 3 huyện sản xuất cam Sành là Bắc Quang, Quang Bình và Vị Xuyên, sử dụng phương pháp điều tra trực tiếp có sự tham gia của người dân tìm kiếm và phát hiện các cá thể có những đặc tính có lợi trong sản xuất kết hợp thu thập thông tin thứ cấp từ các đơn vị quản lý nông nghiệp,… để có thể thông tin tổng quan về cá thể cam Sành ít hạt, với tiêu chí tuyển chọn là quả dưới 10 hạt, có khả năng sinh trưởng, phát triển và có các đặc điểm chung tương đương giống cam Sành bản địa; quả có các đặc điểm ít hạt theo tiêu chí tuyển chọn khi phát hiện sẽ được đánh dấu theo dõi các năm tiếp theo, đồng thời thu thập cành ghép để phục vụ công tác nhân giống; các chỉ tiêu đánh giá gồm khả năng sinh trưởng, năng suất, một số đặc điểm của quả như khối lượng, số hạt/quả,…; sử dụng phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ từ các cá thể cam Sành đã tuyển chọn để nhân nhanh số lượng sau khi phát hiện các cá thể có đặc tính không hạt, ít hạt, mắt ghép được khai thác từ các cá thể cam Sành ít hạt tuyển chọn; khảo nghiệm một số dòng/giống cam Sành không hoặc ít hạt; nghiên cứu, ứng dụng một số tiến bộ kỹ thuật cắt, tỉa, tạo tán cho cam Sành, xác định công thức bón phân thích hợp cho giống cam Sành; xây dựng mô hình thâm canh tổng hợp trên giống cam Sành.

Qua quá trình nghiên cứu đã tuyển chọn được 08 cây cam Sành ít hạt (dưới 8 hạt) sử dụng phương pháp mắt ghép nhỏ có gỗ đã nhân được 800 cây cam Sành. Qua đó, xây dựng mô hình trồng mới các dòng cam Sành ít hạt với diện tích 1ha, các mô hình được áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật mới cắt tỉa, bón phân, tưới nước và sử dụng chất điều hòa sinh trưởng. Ở giai đoạn 1 – 3 tháng, tốc độ sinh trưởng của các dòng cam Sành ít hạt trong mô hình tương đối chậm, các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, đường kính tán và đường kính gốc hầu như không thay đổi nhiều do ở giai đoạn mới trồng các giống đều chưa ổn định bộ rễ nên chưa phát triển. Vào thời điểm sau trồng 9 tháng tốc độ tăng trưởng của cam Sành ít hạt trong mô hình bắt đầu có sự tăng trưởng nhanh, chiều cao cây đạt từ 121 cm – 157 cm, đường kính gốc đạt từ 2,5 cm – 2,7 cm, đường kính tán đạt từ 60,68 cm – 78,47 cm; 15 đến 24 tháng, tốc độ tăng trưởng của dòng cam Sành trong mô hình tăng trưởng nhanh rõ rệt, chiều cao cây đạt từ 110,68 cm – 123,69 cm, đường kính đạt từ 93 cm – 106 cm; đến thời điểm sau trồng 30 tháng, các dòng cam Sành ít hạt tuyển chọn được sinh trưởng khá tốt, chiều cao cây đạt xấp xỉ 2 m, đường kính gốc đạt xấp xỉ 3 cm, đường kính tán đạt xấp xỉ 115 cm và các dòng cam Sành đều ra hoa, đậu quả, thời gian xuất hiện nụ, nở hoa và kết thúc nở hoa tương tự như với giống cam Sành nhiều hạt đang trồng tại Hà Giang (thời gian xuất hiện nụ từ 15/3 – 18/3, hoa nở rộ từ 15/3 - 30/3, kết thúc nở trong khoảng 9/4 - 14/4). Nhìn chung quả cam Sành ít hạt khảo nghiệm có kích thước quả (chiều cao và đường kính quả), khối lượng, số múi và tỷ lệ phần ăn được không có sự khác biệt. Từ kết quả theo dõi bước đầu có thể nói cây cam Sành được nhân nhanh từ các cá thể cam Sành ít hạt tuyển chọn và trồng trong mô hình mới duy trì được đặc tính ít hạt ổn định giống với cây mẹ đã tuyển chọn. Ngoài ra, một số chỉ tiêu sinh hóa cơ bản không có sự khác biệt nhiều so với cam Sành đối chứng, cụ thể hàm lượng chất khô, axit tổng số, vitamin C, đường tổng số của cam Sành ít hạt tuyển chọn (9,72% – 10,56%;  0,64% – 0,73%; 26,84% – 31,96%; 6,65% – 7,69%) với đối chứng là (10,43% ; 0,70% ; 0,89% ; 7,22%).

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, áp dụng quy trình cắt tỉa, tạo tán đã tăng tỷ lệ đậu quả, tăng năng suất của cam Sành. Vào 5 ngày đầu tắt hoa các công thức thí nghiệm có tỷ lệ đậu quả khá cao, giảm nhanh trong giai đoạn tiếp theo và ổn định từ ngày thứ 45 sau tắt hoa, sau 90 ngày tắt hoa, tỷ lệ đậu quả của công thức cắt tỉa đạt 1,67% – 1,98% cao hơn so với đối chứng chỉ đạt 1,23% – 1,36%; biện pháp cắt tỉa còn tạo ra sự khác biệt khá rõ về số lượng quả thực thu/cây và khối lượng quả; các chỉ tiêu về kích thước của quả như chiều cao, đường kính quả đều được cải thiện so với đối chứng; việc cắt tỉa có tác dụng trong việc nâng cao khả năng giữ quả, cải thiện khối lượng quả, không có sự khác biệt nhiều về một số chỉ tiêu chất lượng quả như hàm lượng chất khô, đường tổng số và độ Brix giữa công thức cắt tỉa với nhau và công thức đối chứng; ngoài ra, công thức cắt tỉa và đối chứng đều xuất hiện 3 loại bệnh (bệnh loét hại lá, cành; bệnh sẹo hại lá, quả; bệnh nấm muội đen hại lá, cành) và 7 loại sâu hại phổ biến (sâu vẽ bùa hại lá; sâu đục thân hại thân, cành; rệp sáp hại cành, lá; rệp vảy ốc hại cành, lá; câu cấu hại lá; nhện đỏ, nhện trắng hại lá, quả; ngài trích hút hại quả) trên nhóm cây có múi nhưng có sự khác biệt về nhiễm sâu bệnh, công thức đối chứng mức độ nhiễm các loại sâu bệnh ở mức phổ biến hơn so với công thức cắt tỉa, điều này có thể do công thức cắt, tỉa có bộ tán cân đối, ít cành tăm, mật độ cành hợp lý hơn nên ít sâu bệnh hơn. Mặt khác, việc có bộ tán hợp lý cũng giúp cho việc phòng trừ các loại sâu bệnh hại có hiệu quả hơn.

Các công thức bón phân thử nghiệm đều có tác dụng trong việc nâng cao khả năng giữ quả, nâng cao năng suất nhưng không làm ảnh hưởng đến các chỉ tiêu cơ giới hóa sinh của quả. Sau 2 năm nghiên cứu, các công thức bón phân thử nghiệm đều có số lượng quả, kích thước quả và năng suất khác biệt so với đối chứng (năm 2016, năng suất trung bình của các công thức bón phân đạt 23,74 đến 29,63 kg/cây, trong khi đó năng suất trung bình của đối chứng chỉ đạt 18,63 kg/cây; năm 2017 năng suất trung bình của các công thức bón phân đạt 28,93 đến 36,55 kg/cây và công thức đối chứng chỉ đạt 23,18 kg/cây). Như vậy, năng suất của các công thức bón phân thử nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt với công thức đối chứng, trong đó công thức 3 (bón 5 kg phân vi sinh + 500 g N + 300 g P2O5 + 500 g K2O/cây/năm) đạt năng suất cao nhất.

Quy trình xây dựng mô hình thâm canh tổng hợp trên giống cam Sành được xây dựng với quy mô 0,5 ha (tương đương 200 cây) tại xã Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang; quy trình thử nghiệm cắt tỉa sau thu hoạch, cắt tỉa vụ xuân, vụ hè, vụ thu (thí nghiệm gồm 2 công thức, 3 lần lặp lại, mỗi công thức 5 cây, 30 cây/thí nghiệm), nghiên cứu liều lượng và công thức bón phân thích hợp cho cam Sành; bón phân liều lượng và tỷ lệ bón cho mỗi cây theo công thức 5 kg phân vi sinh + 500 g N + 300 g P2O5 + 500 g K2O5, bón làm 4 đợt; tưới nước, giữ ẩm duy trì độ ẩm rễ từ 60% – 70% độ ẩm đồng ruộng, phòng trừ sâu bệnh (bằng biện pháp canh tác, thủ công, sinh học, hóa học, các biện pháp bổ trợ khác); đối với quy trình đối chứng là cắt tỉa những cành sâu, cành chết; bón phân 1,5 kg – 2 kg NPK lâm thao/cây/năm, bón làm 2 lần, lần 1 sau thu hoạch, lần 2 khi quả đạt kích thước ổn định, không sử dụng phân bón lá, tưới nước phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, phòng trừ sâu bệnh hại phun thuốc bảo vệ thực vật khi thấy sâu bệnh gây hại nặng, chủ yếu phòng trừ nhện hại và bệnh thối quả. Kết quả cho thấy trong điều kiện thời tiết ở Bắc Quang, quy trình không làm ảnh hưởng đến thời gian ra hoa, nở hoa nghĩa là không làm thay đổi đặc điểm ra hoa của cây cam Sành. Tỷ lệ đậu quả của các công thức là: Vào thời điểm 5 ngày sau tắt hoa, tỷ lệ đậu quả của 2 mô hình khá cao, mô hình thâm canh tổng hợp là 10,42%, đối chứng là 7,83%; vào thời điểm 90 ngày sau tắt hoa tỷ lệ đậu quả mô hình thâm canh tổng hợp là 1,86%, mô hình đối chứng là 1,02%. Như vậy, tỷ lệ đậu quả ở mô hình thâm canh tổng hợp cao hơn rõ rệt so với đối chứng ở hầu hết các thời điểm theo dõi. Điều này chứng tỏ, việc áp dụng Quy trình thâm canh tổng hợp có tác dụng rõ rệt trong việc nâng cao tỷ lệ đậu quả của cây cam Sành. Sở dĩ hiệu quả ở mô hình thâm canh tổng hợp cao hơn, có thể do việc áp dụng đầy đủ các biện pháp kỹ thuật giúp cây sinh trưởng tốt, đảm bảo đủ và cân đối dinh dưỡng trong giai đoạn ra hoa và ít sâu bệnh hại hơn, nên tỷ lệ đậu và giữ quả tốt hơn so với cây cam được chăm sóc theo quy trình truyền thống của người dân. Số quả trên cây ở mô hình thâm canh tổng hợp cao hơn đạt 240,52 quả/cây và đối chứng là 198,54 quả/cây; khối lượng quả trung bình trong mô hình thâm canh tổng hợp là 0,25 kg còn đối chứng là 0,20 kg. Như vậy, mô hình thâm canh tổng hợp có số quả/cây và khối lượng quả cao hơn so với mô hình canh tác truyền thống. Ngoài ra, kích thước quả, tỷ lệ phần ăn được của mô hình thâm canh tổng hợp lớn hơn, mã quả sáng, bóng hơn,… Tóm lại, quy trình thâm canh tổng hợp đề xuất có tác dụng rõ rệt trong việc cải thiện khả năng sinh trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và mẫu mã quả cam Sành mà không làm ảnh hưởng đến những yếu tố được quyết định bởi đặc điểm di truyền như số múi, số hạt/quả cam Sành. Do đó, hiệu quả kinh tế của mô hình thâm canh cao hơn so với mô hình đối chứng.

Như vậy, sau một thời gian nghiên cứu Ban chủ nhiệm đề tài đã tuyển chọn được những cá thể cam Sành ít hạt, nhân nhanh cho quá trình sản xuất và hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh tổng hợp cây cam Sành giúp nâng cao năng suất chất lượng cam. Tuy nhiên, cần theo dõi tính ổn định về khả năng sinh trưởng, phát triển, ra hoa, đậu quả, tỷ lệ hạt của cam Sành ở mô hình trong những năm tiếp theo. Đồng thời, khuyến cáo các hộ dân trồng cam Sành tại Bắc Quang và các vùng trồng có điều kiện tương tự áp dụng theo quy trình cây cam Sành được đề xuất./.

Bản tin KH&CN Hà Giang

Tin khác

Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ chế biến một số sản phẩm từ Giảo cổ lam, Ấu tẩu của Hà Giang (12/09/2019 15:49)

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ gen bệnh Thalassemia ở một số dân tộc thiểu số tại tỉnh Hà Giang (12/09/2019 15:45)

Nghị định số 13/2019/NĐ-CP của Chính phủ - Một số điểm mới về chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ (12/09/2019 15:43)

Mật ong Bạc hà, một sản phẩm được chứng nhận Chỉ dẫn địa lý cần được bảo vệ (12/09/2019 15:38)

Hà Giang chú trọng nghiên cứu và phát triển thức ăn chăn nuôi mùa đông cho đại gia súc (12/09/2019 15:05)

Đẩy mạnh hiệu quả truy xuất nguồn gốc hàng hóa tại Hà Giang (12/09/2019 14:46)

Công tác cải cách hành chính Sở Khoa học và Công nghệ (12/09/2019 14:33)

xem tiếp