Thứ ba, Ngày 22 Tháng 1 Năm 2020

Tin tức tổng hợp

Nghiên cứu chọn tạo giống chè mới năng suất cao, chất lượng tốt bằng phương pháp gây đột biến nhân tạo kết hợp lai hữu tính

02/12/2019 09:30

Trong những năm gần đây, cây chè ngày càng được khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Cây chè đã trở thành cây trồng chủ lực của các tỉnh trung du miền núi.

Tính đến hết năm 2015, Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn thứ 5 trên thế giới (sau Kenya, Srilanka, Trung Quốc, Ấn Độ), sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là các dạng chè đen (CTC, Orthodox), chè xanh (chè xanh tự nhiên, chè hương nhài), chè Olong… Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, chè Việt Nam đang có giá xuất khẩu thấp nhất, chỉ bằng 60-70% giá chè thế giới, thị trường lại chưa ổn định. Năm 2015, tổng diện tích trồng chè đạt 134,7 nghìn ha tăng 1,6% so với năm 2014. Tổng sản lượng đạt trên 1,0 triệu tấn chè búp tươi, tương ứng với năng suất bình quân đạt 8,6 tấn/ha. Kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 213,133 triệu USD với sản lượng ước đạt 124.799 tấn chè khô. Giá chè xuất khẩu năm 2015 đạt 1710-1720 USD/tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2014 và thấp hơn so với giá bán chè bình quân của thế giới hiện nay đạt 2.200 USD/tấn. Nguyên nhân chính do chất lượng chè Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của thế giới. Bởi vậy, trong những năm gần đây, để nâng cao chất lượng chè của Việt Nam, Ngành chè xác định nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh công tác chọn tạo giống chè và gắn các giống chè với từng loại hình sản phẩm.

Hiện nay, bộ giống chè do Việt Nam chọn tạo chủ yếu phù hợp cho chế biến chè đen. Một số giống chế biến được chè xanh nhưng chất lượng chỉ đạt loại khá. Chưa có giống chọn tạo trong nước có thể chế biến được chè Ôlong chất lượng cao. Trong khi đó, xu thế phát triển và cạnh tranh chè trên thế giới trong tương lai là sản phẩm chè xanh.

Cho đến nay, chúng ta đã và đang sử dụng các phương pháp chọn giống phổ biến trên thế giới như chọn tập đoàn, lai tạo, gây đột biến. Để công tác chọn tạo giống chè mới đạt hiệu quả cao cần thiết phải có nguồn vật liệu khởi đầu phong phú. Tuy nhiên, hiện nay vật liệu khởi đầu trong chọn giống chè ở Việt Nam chủ yếu dựa vào 2 nguồn chính là từ hạt lai hữu tính và từ nguồn giống thu thập trong và ngoài nước, còn nguồn vật liệu khởi đầu từ phương pháp gây đột biến thì 2 mới được quan tâm ở mức độ chưa nhiều. Mặc dù phương pháp gây đột biến có thể tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu với số lượng lớn, nguồn biến dị rất phong phú chỉ trong một thời gian ngắn.

Vì vậy, chúng ta cần tập trung mọi nguồn lực, kết hợp cả phương pháp gây đột biến và phương pháp lai hữu tính để trong thời gian ngắn có thể tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu phong phú phục vụ cho công tác chọn tạo giống chè mới. Từ thực tế trên, TS. Nguyễn Thị Minh Phương, Viện KHKT NLN miền núi phía Bắc đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống chè mới năng suất cao, chất lượng tốt bằng phương pháp gây đột biến nhân tạo kết hợp lai hữu tính” nhằm mục tiêu chọn tạo các giống chè mới bằng phương pháp gây đột biến nhân tạo kết hợp lai hữu tính, có năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng rộng, phục vụ sản xuất chè xanh, chè đen và chè Ôlong cho các tỉnh phía Bắc.

Sau đây là một số kết quả nổi bật mà đề tài thu được:
- Đã chọn được 3 giống chè mới trong đó 1 giống được công nhận giống mới (PH8) và 2 giống sản xuất thử ( TRI5.0, Hương Bắc Sơn), các giống chè mới có đặc điểm như sau:
+ Giống chè PH8: được công nhận giống sản xuất thử năm 2009 và công nhận giống mới năm 2015. Sinh trưởng khỏe. Năng suất cao, chè tuổi 8 đạt 17,24 tấn/ha. Giống PH8 thích ứng rộng, chịu hạn và lạnh tốt, chống chịu sâu bệnh khá, dễ giâm cành. Chế biến chè xanh có chất lượng cao, có hương thơm đặc trưng. Giống chè TRI5.0 là giống chè được chọn tạo bằng phương pháp sử dụng tác nhân gây đột biến, được công nhận giống sản xuất thử năm 2015.
+ Giống chè TRI5.0 sinh trưởng khỏe, chống chịu sâu bệnh khá, dễ giâm cành. Chè tuổi 3 đạt 5,42 tấn/ha và chè tuổi 18 năng suất đạt 25,1 tấn/ha. Chế biến chè xanh và chè đen chất lượng khá. Giống chè Hương Bắc Sơn được công nhận giống sản xuất thử năm 2015. Là con lai giữa giống Kim Tuyên và Trung du. Cây sinh trưởng khoẻ, bật mầm sớm, chè tuổi 6 năng suất đạt 8,32 tấn/ha.
+ Giống Hương Bắc Sơn dễ giâm cành, khả năng chống chịu sâu bệnh khá. Nguyên liệu búp chất lượng tốt, chế biến chè xanh có chất lượng cao hương thơm mạnh, bền hương, hương giống đặc trưng. Giống Hương Bắc Sơn chế biến chè Ôlong chất lượng tốt. Ngoài ra giống chè Hương Bắc Sơn còn chế biến được chè xanh dẹt chất lượng khá tốt với điểm thử nếm đạt 17,25 - 17,45 điểm.

Hiện nay, các giống đang được trồng và phát triển tại các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La với diện tích 1200 ha(PH8), 40 ha (TRI5.0 ), 45 ha đối với giống (Hương Bắc Sơn).

- Đã chọn được 12 dòng chè mới trong đó có 7 dòng chè được tạo ra bằng phương pháp đột biến gồm các dòng: ĐBK1, ĐBK6, ĐBK11, ĐBK12, ĐBS7, ĐBS11, PH1 2.0 23 và 5 dòng chè được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính gồm các dòng 208, dòng 230, dòng 233, dòng 212, dòng 248. Các dòng chè mới chọn tạo có năng suất ở tuổi 3 đạt 3,78 - 5,8 tấn/ha tăng hơn so với đối chứng (Kim Tuyên, Shan ) 20 - 30%, điểm thử nếm chè xanh, chè đen đều đạt trên 16,5 điểm. Có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt.
- Tạo được nguồn vật liệu khởi đầu phong phú bằng phương pháp lai hữu tính và phương pháp xử lý đột biến. Đã chọn được 100 cá thể ưu tú, trong đó bằng phương pháp xử lý đột biến đã chọn được 70 cá thể ưu tú. Các cá thể này có khả năng sinh trưởng khỏe, năng suất cây đạt từ 86,5 - 163,9 g/cây tương đương 1,7 - 3,2 tấn/ha. Đánh giá cảm quan hương thơm đều có hương giống với mức độ từ thơm nhẹ đến hương giống mạnh với điểm thử nếm đạt >16,0 điểm. Bằng phương pháp lai hữu tính đã chọn được 30 cá thể. Các cá thể đều có năng suất cao hơn đối chứng trên 20%, điểm thử nếm cảm quan chè xanh đạt trên 16,5 điểm, các cá thể đều có hương thơm từ hương thơm nhẹ đến thơm đặc trưng hương hoa.
- Đã xây dựng và thông qua hội đồng khoa học cơ sở 2 quy trình nhân giống và trồng trọt thâm canh cho một số dòng/giống chè đột biến và lai hữu tính.
- Đã đào tạo thành công 2 thạc sỹ, đào tạo phương pháp chọn tạo và thâm canh chè tại Nhật Bản cho 4 cán bộ khoa học và đã dăng 2 bài báo trên tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn; Hội thảo Quốc gia về Khoa học cây trồng - lần thứ hai - Nhà xuất bản nông nghiệp, 2016.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 15136/2018) tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia.

http://www.vista.gov.vn

Tin khác

KH&CN phục vụ bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai (02/12/2019 09:28)

Câu chuyện một món nợ (02/12/2019 08:47)

Bảo tồn và phát triển các nguồn gen dược liệu (02/12/2019 08:30)

Kết quả xây dựng mô hình nhân rộng CSA trên cây hồng không hạt tại Yên Minh (02/12/2019 08:29)

Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh làm việc tại huyện Vị Xuyên (02/12/2019 08:23)

Thủ tướng tham quan Triển lãm KHCN và đổi mới sáng tạo (02/12/2019 08:20)

Thủ tướng: Việc đầu tiên phải làm là đổi mới sáng tạo cách trọng dụng con người (02/12/2019 08:13)

“Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vì mục tiêu phát triển bền vững” (02/12/2019 08:11)

Bộ KH&CN sẽ đón nhận huân chương lao động hạng Nhất (27/11/2019 09:04)

Trung tâm Mô phỏng công nghệ và phát triển sản phẩm tham quan tại Triển lãm Thiết bị & Công nghệ Nông - Lâm - Ngư nghiệp (23/11/2019 09:52)

xem tiếp