Thứ tư, Ngày 22 Tháng 1 Năm 2020

Bản tin Khoa học và Công nghệ

Bảo tồn và phát triển nuôi cá Mỵ - hướng đến phát triển kinh tế hộ gia đình

12/12/2019 14:11

Cá Mỵ có tên khoa học là Golden Sinilabeo Graffeuilli, thuộc họ cá Chép, là loài cá đặc hữu của sông suối các tỉnh phía Bắc Việt Nam, có chất lượng thịt thơm ngon và có giá trị kinh tế cao. Cá Mỵ cũng là một trong những loài cá quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và cần được bảo vệ đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (Phần Động vật - Trang 31, 1992, 2000) với mức độ đe dọa bậc V và danh sách các loài cần bảo vệ của ngành Thủy sản từ năm 1996, nhưng cho tới nay vẫn chưa có quy chế bảo vệ và khai thác hợp lý loài cá này.

Cá Mỵ nuôi trong ao nước chảy

Hiện nay, sản l­ượng cá Mỵ trong tự nhiên đã bị giảm sút một cách nghiêm trọng. Sự gia tăng dân số với tốc độ nhanh, kéo theo nhu cầu tiêu dùng thực phẩm thủy sản ngày càng cao cùng với việc khai thác quá nhiều của con người, với những công cụ khai thác mang tính tận diệt (như các loại hóa chất, xung điện) đã làm cho nguồn lợi thủy sản ngày càng bị suy giảm trầm trọng. Cá Mỵ đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, các hệ sinh thái thủy sinh tại nhiều nơi đang bị phá hủy; sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác cũng có tác động không nhỏ đến việc suy giảm nguồn lợi và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của các loài thủy sản; những bãi giống, bãi đẻ bị mất do hoạt động xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện...

Tại tỉnh Hà Giang, cá Mỵ được tìm thấy ở khu vực sông Nho Quế và khu vực thuộc địa phận các xã Hữu Vinh, Du Già thuộc huyện Yên Minh, khu vực suối Má huyện Vị Xuyên, khu vực xã Việt Vinh, Tân Thành huyện Bắc Quang, ở một số địa phương của Hà Giang, bà con còn gọi cá Mỵ là cá My hay cá Mi.

Về đặc điểm hình thái, cá Mỵ là loài cá cỡ lớn, có thân dài, mình dày và dẹp bên, đầu dài vừa phải, mõm tròn tầy, mút co kết hạch to và tương đối đều, có miệng dưới, hình cong, hàm dưới và môi dưới tách rời nhau bằng 1 rãnh sâu. Môi dưới hơi dầy, phía trước và phía trong chứa đầy các mấu thịt. Rãnh sau môi dưới, hai bên rất sâu, phần giữa nông nhưng nối liền trái phải rõ ràng. Hàm dưới phát triển, phía dưới phủ sụn. Có 2 đôi râu. Mắt hơi nhỏ, chếch phía trên, khoảng cách 2 mắt rộng hơi khum. Màng mang rộng, dày và nối liền với eo mang. Vây lưng có khởi điểm trước khởi điểm vây bụng, không có tia gai cứng, viền sau hơi lõm. Hậu môn trước vây hậu môn 2 vây. Vây đuôi phân thuỳ sâu. Vảy tương đối lớn, vảy trước vây lưng lớn và phủ thành hàng đều đặn, vảy trước vây ngực nhỏ, ẩn dưới da. Đường bên hoàn toàn chạy giữa thân. Lưng có màu xám sẫm, bụng vàng nhạt. Vây ngực, vây bụng có gốc xám, ngọn vàng sẫm, các vây khác xám nhạt.

Về đặc điểm sinh trưởng cá Mỵ có kích thước lớn, cỡ lớn nhất có thể tới 6 - 7 kg, thường khai thác được cá cỡ 1- 2 kg, thức ăn chính của cá là các loài rong rêu, tảo bám, chất hữu cơ mục nát. Cá Mỵ là loài đặc hữu ở vùng núi Bắc bộ, có kích thước lớn, sản lượng ở tự nhiên không nhiều, nhưng là loài cá quý, có triển vọng trở thành đối tượng nuôi mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

Về đặc điểm sinh sản, cá Mỵ thành thục sau 3 - 4 năm tuổi, mùa sinh sản của cá vào khoảng tháng 12 đến tháng 2 năm sau, bãi đẻ của cá là nơi nước chảy mạnh, đáy có nhiều sỏi đá.

Quá trình nuôi thuần dưỡng cá Mỵ:

Cá Mỵ sống ở tầng đáy vùng trung lưu và thượng lưu các sông suối lớn và các cửa ngòi, nơi có nước chảy, trong và đáy có nhiều sỏi đá. Đây là đối tượng cá bản địa quý hiếm, về tập tính sống của chúng thích nghi ở những sông, suối có các hang đá, đáy là cát sỏi nhiệt độ mát mẻ, ổn định, nước trong sạch lưu thông quanh năm. Nên khi đưa vào nuôi thuần hóa trong môi trường ao nuôi cần phải tạo các điều kiện tương tự ngoài tự nhiên như: Đáy được dải cát và sỏi, nguồn nước trong sạch, nước lưu thông thường xuyên phun mưa, sục khí, tạo dòng chảy, sau đó mới điều chỉnh dần cho phù hợp với điều kiện nuôi nhốt. Ao cần được cải tạo như đối với các ao để nuôi cá Chầy đất, cá Anh vũ. Thức ăn phải có hàm lượng đạm cao và ổn định, tạo điều kiện cho cá sinh trưởng và phát triển tốt, cỡ cá đồng đều không có dịch bệnh trong quá trình nuôi.

Cá thả là cá được thu mua từ môi trường tự nhiên của tỉnh Hà Giang. Tuy nhiên, cần chọn cá giống đảm bảo chất lượng cá thả: Bơi lội hoạt bát, không dị hình - dị tật, vây cá phủ kín, không mất nhớt, không xây xát, màu sắc cá tươi sáng, đặc trưng với loài. Vận chuyển và thả cá giống vào lúc trời mát. Khi thả cần ngâm túi nilon đựng cá vào trong nước ao nuôi khoảng 10 - 15 phút (nếu vận chuyển bằng túi nilon). Mật độ thả 0.5 - 1 con/m2 tùy thuộc theo cỡ cá thả.

Để phòng bệnh cho cá, trước khi thả giống cần tắm khử trùng cho cá trong dung dịch muối ăn nồng độ 2 - 3% trong 5 - 10 phút (chú ý cắm sục khí).

Chăm sóc và quản lý

Cho cá sử dụng loại cám 30% protein (viên nổi). Với kích thước cá thu thập từ 0,2 - 1,5 kg/con, lượng thức ăn trung bình dự kiến sử dụng là 5 - 6% tổng khối lượng cá thả. Cần cho cá ăn đầy đủ theo khẩu phần, không nên cho cá ăn vào thời điểm nhiệt độ quá cao hay quá thấp, khi hàm lượng oxy hòa tan thấp…

Trong quá trình nuôi, cần thường xuyên theo dõi môi trường nước, định kỳ 20 - 30 ngày, sử dụng vôi liều lượng từ 1 - 2 kg/100 m3, hòa tan trong nước rồi té đều khắp mặt ao. Để tăng cường sức đề kháng cho cá nuôi, định kỳ 1 tháng/lần cần bổ sung thêm Vitamin C, nhất là trước và trong những thời điểm giao mùa.

Vì cá quen sống ở điều kiện tự nhiên (nước chảy) nên những tháng đầu cần liên tục sử dụng máy phun mưa, sau 2-3 tháng bắt đầu giảm số giờ chạy máy cho phù hợp với điều kiện cụ thể.

Cần thường xuyên kiểm tra tình trạng sử dụng thức ăn để có những điều chỉnh kịp thời. Đến mùa bệnh, cần tiến hành kiểm tra, giám sát kỹ để ngăn chặn, nhanh chóng điều trị kịp thời những bệnh gặp trên cá.

Định kỳ 15 ngày/lần tiến hành thu mẫu (ước lượng 3-10 kg cá/mẫu, tùy theo kích thước cá) để theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của cá và tính toán lại lượng thức ăn cho cá phù hợp.

 

Việc nuôi thuần hóa cá Mỵ trong ao nước chảy tạo tiền đề cho công tác sản xuất giống, đặc biệt là các loài cá bản địa có giá trị kinh tế cao, tiến tới cho sinh sản nhân tạo cá Mỵ tại Hà Giang, góp phần bảo tồn và lưu giữ nguồn gen giống cá bản địa có nguy cơ tuyệt chủng.

 

Bản tin KH&CN Hà Giang

Tin khác

Bảo hộ và quản lý quyền Sở Hữu trí tuệ đối với đặc sản của địa phương (12/12/2019 14:07)

Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các Doanh nghiệp tỉnh Hà Giang (12/09/2019 16:00)

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận thông tin khoa học công nghệ (12/09/2019 15:58)

Nghiên cứu tuyển chọn, phát triển cam Sành không hạt hoặc ít hạt và nâng cao năng suất, chất lượng cam Sành tại Hà Giang (12/09/2019 15:56)

Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ chế biến một số sản phẩm từ Giảo cổ lam, Ấu tẩu của Hà Giang (12/09/2019 15:49)

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ gen bệnh Thalassemia ở một số dân tộc thiểu số tại tỉnh Hà Giang (12/09/2019 15:45)

Nghị định số 13/2019/NĐ-CP của Chính phủ - Một số điểm mới về chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ (12/09/2019 15:43)

Mật ong Bạc hà, một sản phẩm được chứng nhận Chỉ dẫn địa lý cần được bảo vệ (12/09/2019 15:38)

Hà Giang chú trọng nghiên cứu và phát triển thức ăn chăn nuôi mùa đông cho đại gia súc (12/09/2019 15:05)

Đẩy mạnh hiệu quả truy xuất nguồn gốc hàng hóa tại Hà Giang (12/09/2019 14:46)

xem tiếp