Thứ năm, Ngày 27 Tháng 1 Năm 2022

Bản tin Khoa học và Công nghệ

Gửi Email In trang Lưu
Hiệu quả bước đầu thực hiện cải tạo vườn tạp (Tiếp kỳ trước)

01/09/2021 15:33

Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/12/2020 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ để tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2021 - 2025. Tính đến 31/5/2021 hiệu quả bước đầu thực hiện cải tạo vườn tạp đạt được như sau:

Cải tạo vườn tạp, chuyển đổi cây trồng, nâng cao thu nhập tại xã Phong Quang

Về việc thực hiện Kết luận số 01-KL/BCĐ ngày 18/1/2021 của Ban Chỉ đạo, UBND tỉnh đã triển khai thành lập Tổ giúp việc; tổ chức thành công Lễ phát động thực hiện chương trình cải tạo vườn tạp tại huyện Vị Xuyên; các huyện, thành phố đã xây dựng kế hoạch, thành lập Ban chỉ đạo cấp huyện, xã và tập trung triển khai quyết liệt, hỗ trợ nhân, vật lực và 11/11 huyện, thành phố triển khai phát động chương trình cải tạo vườn tạp; kiểm tra, giám sát, hướng dẫn và cùng tháo gỡ vướng mắc tại các huyện, thành phố; giải ngân cho các hộ (hộ nghèo, hộ cận nghèo) để thực hiện; Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực thực hiện hiệu quả và và tổ chức họp giao ban với các sở, ngành, huyện thành phố, tổng hợp báo cáo định kỳ hàng tháng, quý... đảm bảo thời gian, nội dung và yêu cầu.
Về việc thực hiện kết luận số 200-KL/BCSĐ ngày 26/5/2021 của Ban cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 58/2020/NQ-HĐND tỉnh. Đến nay có 11/11 huyện, thành phố đăng ký danh sách bổ sung các hộ thực hiện vay vốn theo Nghị quyết “58” để cải tạo vườn tạp năm 2021, cụ thể: Tổng số hộ đăng ký 805 hộ, trong đó: 404 hộ nghèo, 401 hộ cận nghèo; tổng số nhu cầu vay vốn cải tạo vườn tạp là 23.730 triệu đồng; tổng diện tích vườn tạp đăng ký thực hiện cải tạo là 1.267.171m2.
Đối với việc tổ chức quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/12/2020 của BCH Đảng bộ tỉnh, chính sách đặc thù của HĐND tỉnh và Đề án cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ, tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 được 1.633 buổi; số lượt người được tuyên truyền là 112.085 lượt người.
Ngoài ra, việc tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật là 108 buổi, với 5.224 người tham gia. Đối tượng tập huấn là Ban chỉ đạo, Hội Nông dân, Phụ nữ, tổ thẩm định cấp xã, Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn bản và các hộ nông dân thực hiện cải tạp vườn tạp. Nội dung tập huấn nhằm tuyên truyền các chủ trương chính sách của tỉnh Nghị quyết “05” của Tỉnh ủy, Nghị quyết “58” của HĐND tỉnh, Hướng dẫn số “51” và Quyết định số “13” của UBND tỉnh....; kỹ thuật trồng, chăm sóc các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản, phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng, vật nuôi, bảo quản nông sản; ngoài ra hướng dẫn cầm tay chỉ việc thực hành trên đồng ruộng...
Sau khi triển khai thực hiện, đến nay tổng số hộ thực hiện cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ là 571 hộ/356 hộ/11 huyện, thành phố, so với kế hoạch đạt 160,39%, trong đó có 244 hộ nghèo và 327 hộ cận nghèo. Nguồn vốn được thẩm định, giải ngân, lũy kế thẩm định tính đến hết tháng 5 là 438 hộ; số hộ đủ điều kiện vay vốn là 422 hộ; số hộ không đủ điều kiện vay vốn là không đúng đối tượng theo Nghị quyết số “58” HĐND tỉnh là 16 hộ. Số hộ được giải ngân vốn vay là 231 hộ; số tiền đã giải ngân lũy kế đến hết tháng 5 là 6.675 triệu đồng so với kế hoạch đạt 64,71% (kế hoạch là 10.315 triệu đồng), bình quân 30 triệu đồng/hộ (riêng TP Hà Giang 20 triệu đồng/hộ).
Đến nay, số lượng cây, con giống và sử dụng kinh phí vay vốn của các hộ gia đình để mua gồm cây ăn quả (cây bưởi, ổi, thanh long, lê, mận,...) là 8.960 cây; giống rau, đậu các loại là 413kg; giống cây lương thực (giống ngô) là 66kg; giống cây lâm nghiệp (cây keo, sa mộc, lá khôi tía...) là 23.830 cây; thủy sản (cá chép, trắm) là 725kg; vật nuôi là 6.152 con (lợn 531 con, dê 128, trâu 25, bò 32, gia cầm 5.436 con); chi phí các hộ gia đình mua vật liệu xây dựng để cải tạo, xây dựng mới chuồng trại, thức ăn chăn nuôi, phân bón… là 357 triệu đồng.
Như vậy, tổng diện tích vườn tạp đã được cải tạo tính đến lũy kế 31/5/2021 là 543.962m2, cụ thể: Diện tích trồng cây ăn quả là 399.976m2 (gồm bưởi, táo, xoài, ổi, đào, thanh long, lê, mận); diện tích trồng các loại rau, đậu, lạc là 94.454m2 (gồm các loại rau cải, đậu các loại, rau mồng tơi, rau muống...) bước đầu đánh giá cây trồng sinh trưởng và phát triên tốt. Diện tích ao chăn nuôi thuỷ sản là 19.395m2 (bao gồm cá trắm, cá chép, cá mè, cá rô phi); diện tích xây dựng chuồng, trại chăn nuôi là 30.137m2 (giống vật nuôi gồm; lợn, dê, trâu, bò và các loại gia cầm gà, ngan, vịt...). Đồng thời, số hộ thực hiện thí điểm xếp đá, đổ đất tạo vườn gắn với cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ là 26 hộ với diện tích 16.056m2 (huyện Đồng Văn, Mèo Vạc).
Trong quá trình triển khai Đề án, một số hộ gia đình tại các huyện, thành phố đã tổ chức thực hiện tốt, tích cực và có nhiều cách làm hay. Với vốn vay 30 triệu đồng/hộ, các hộ gia đình đã sử dụng khoảng 30 - 60% tổng kinh phí để mua con giống, cây giống để sản xuất (các hộ gia đình tập trung vào phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản); sử dụng khoảng 10 -15% tổng kinh phí để mua thức ăn, phân bón, vật tư nông nghiệp chăm sóc vật nuôi, cây trồng và còn lại khoảng từ 16 - 56% tổng kinh phí các hộ gia đình sử dụng để chỉnh trang lại vườn, mua vật liệu xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo lại diện tích chuồng chăn nuôi, ao, nhà cửa... Ngoài kinh phí vay vốn, các tổ chức, cá nhân tại các huyện, thành phố đã nhiệt tình ủng hộ từ công lao động, cây giống, con giống và kinh phí, bình quân cho 01 hộ điển hình thực hiện cải tạo vườn tạp, khoảng từ 45 - 50 triệu đồng, để các hộ gia đình có thêm các điều kiện sửa chữa, san ủi mặt bằng, bố trí lại nhà cửa, khu chăn nuôi, vườn ao chuồng khoa học, hợp vệ sinh môi trường và đặc biệt giúp hộ gia đình tổ chức sản xuất bền vững, nâng cao thu nhập, nhằm giúp hộ gia đình sau 30 tháng có kinh phí trả vốn vay nhà nước, mà vẫn có vốn để tổ chức sản xuất.
Qua thời gian đầu triển khai Đề án cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ, tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững trên địa bàn các huyện, thành phố đã có một số mô hình điển hình về chỉnh trang khuôn viên vườn nhà, chuồng trại, ao cá... làm thay đổi nhận thức của người nông dân thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo về giá trị diện tích vườn, chuồng trại, ao cá sau khi được cải tạo. Sau đây là một số mô hình tại các huyện: Huyện Vị Xuyên mô hình trồng cây Táo 500m2, vườn rau củ quả 200m2, khu chăn nuôi 800m2… Huyện Bắc Quang mô hình chỉnh trang lại khuôn viên, bố trí lại cấu trúc không gian như sân trước cửa nhà trồng hàng rào xanh (cây cúc tần, giâm bụt) phía giáp đường bê tông 30m2; dọn dẹp loại bỏ cỏ dại cây tạp đằng sau nhà và bên trong bếp; làm hàng rào tre, nứa xung quanh vườn trồng cây ổi, trồng rau, dưa chuột; bố trí lại khu chăn nuôi lợn gà, xây lại chuồng lợn với diện tích 20m2… Huyện Quản Bạ mô hình trồng rau củ quả là 350m2, trồng cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản... 600m2, huy động hỗ trợ công lao động 51 công. Huyện Đồng Văn thực hiện chuyển đổi vườn từ cây trồng có giá trị thấp sang kè đá, giữ đất cải tạo vườn trồng cây ăn quả (mận) và cây dược liệu (gừng) diện tích là 1.900m2; cải tạo vườn trồng lê và chăn nuôi gia cầm, trên diện tích 5.000m2, dự kiến cho thu nhập/năm 50 - 60 triệu/năm. Huyện Hoàng Su Phì phát triển trồng cây dưa hấu, dưa chuột diện tích 500m2, cho thu nhập trên 22 triệu đồng/vụ; chú trọng trồng các loại rau, thí điểm trồng đương quy 300m2; chăn nuôi lợn sinh sản gồm 03 nái, 01 đực. Chăn nuôi gà 300 con, ngan 300 con; mô hình cây ăn quả xen cây trồng ngắn ngày trên diện tích 1.000m2; trồng các loại rau củ quả theo mùa vụ 300m2…
Để có được những kết quả trên thì nhờ có sự đóng góp từ các cá nhân hỗ trợ trực tiếp hộ nghèo, hộ cận nghèo cải tạo vườn tạp là 975 triệu đồng; cây giống được các tổ chức, cá nhân hỗ trợ cho hộ gia đình cải tạo vườn tạp là 11.587 cây (lê, mận, ổi); hỗ trợ công lao động cải tạo vườn tạp là 11.909 công. Sở Nông nghiệp và PTNT hỗ trợ 5.000 con gà giống (Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Hoàng Su phì) để cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo thực hiện cải tạo vườn tạp; hỗ trợ xây dựng mô hình trồng cây na có giá trị kinh tế cao tại xã Ngọc Đường - thành phố Hà Giang và thị trấn Yên Bình - huyện Quang Bình, quy mô 6ha (3 ha/điểm), 13 hộ tham gia; dự án xây dựng mô hình trồng cây lạc xen canh trên đất vườn cam thời kỳ kiến thiết cơ bản gắn với đề án "Cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ" tại xã Linh Hồ, huyện Vị Xuyên, quy mô 4ha, 15 hộ tham gia;…
Ngoài ra, việc thực hiện cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ (không thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo): Số hộ không thuộc đối tượng được hưởng chính sách theo Nghị quyết đã triển khai xây dựng vườn mẫu là 443 hộ; diện tích vườn đã được cải tạo là 794.725m2; giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp hỗ trợ các hộ gia đình 8.470 cây, con (401 triệu đồng); đến nay công hỗ trợ gia đình là 6.534 công.
Thuận lợi: Trong quá trình triển khai thực hiện có sự lãnh chỉ đạo quyết liệt, sự quan tâm của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự hưởng ứng, đồng thuận của các tổ chức chính trị - xã hội và tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện. Việc triển khai thực hiện nghị quyết đảm bảo tính đồng bộ từ Nghị quyết, chính sách, Đề án, Kế hoạch, hướng dẫn; cẩm nang kỹ thuật do vậy huy động được sự vào cuộc của các cấp. Các hộ nghèo, cận nghèo dễ tiếp cận với nguồn vốn vay.
Bên cạnh những thuận lợi còn một số khó khăn, vướng mắc như: Vị trí vườn hộ địa hình đồi núi, đường đi lại khó khăn, vườn chủ yếu quy mô/diện tích nhỏ, manh mún, độ dốc cao, đất nhiều đá, việc lựa chọn các loại cây trồng phù hợp gây khó khăn cho việc quy hoạch, bố trí, sắp xếp lại vườn hộ và tổ chức sản xuất; đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo thiếu kinh nghiệm, kiến thức kỹ thuật trong sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, chưa mạnh chưa chịu khó đầu tư sản xuất tư tưởng còn sợ bị thất bại. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hoá trong sản xuất rất hạn chế, còn tư tưởng chông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước…
Từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên trong thời gian tới cần có phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là: Tiếp tục Chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền quán triệt Nghị quyết chuyên đề của Ban chỉ đạo, Nghị quyết HĐND tỉnh về cơ chế, chính sách; Đề án, Kế hoạch của tỉnh, huyện, xã đến cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân để thống nhất chung trong nhận thức và hành động, cùng chung sức giúp đỡ hộ nghèo, cận nghèo cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ.
Hai là: Chỉ đạo các Sở, Ngành phối hợp tổ chức thực hiện; Tài chính, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, Nông nghiệp và PTNT đẩy nhanh việc giải ngân vay vốn để các đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo được tiếp cận nguồn vốn nhanh nhất.
Ba là: Các Sở, ngành liên quan tập trung thực hiện Kết luận số 200- KL/BCSĐ ngày 26/5/2021 của Ban cán sự Đảng ủy ban nhân dân tỉnh về việc đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết 58/2020/NQ-HĐND ngày 09/12/2020, trong đó có nội dung bổ sung đăng ký vay vốn thực hiện Cải tạo vườn tạp.
Bốn là: Tập huấn kĩ thuật cải tạo vườn tạp theo phương pháp cầm tay chỉ việc, dự kiến tập huấn 14 lớp với 356 học viên.
Năm là: UBND tỉnh chỉ đạo Tổ giúp việc xuống cơ sở kiểm tra việc triển khai thực hiện Nghị quyết, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các địa phương.
Sáu là: Ban chỉ đạo các huyện, thành phố: Chỉ đạo các bộ phận chức năng tham mưu vào cuộc quyết liệt, rà soát phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận để tổ chức thực hiện hiệu quả; rà soát lại danh sách các hộ thực hiện của các xã, thị trấn theo quan điểm “dễ làm trước, khó làm sau”. Từ đó, đưa ra điều chỉnh phù hợp với thực tế của hộ gia đình và địa phương. Chỉ đạo đội ngũ cán bộ kĩ thuật, Tổ công tác thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn các hộ thực hiện theo hình thức "cầm tay chỉ việc và phương pháp lớp học thực hành trên đồng ruộng (FFS)" để người dân tăng cường nhận thức, kiến thức làm ăn trên mảnh đất vườn của mình; tuyên truyền, triển khai rà soát, đánh giá thực trạng vườn hộ để nhân rộng Đề án, vận động thực hiện cải tạo ở những hộ có diện tích vườn tạp, xây dựng vườn mẫu; đẩy nhanh tiến độ thẩm định, phê duyệt danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo được vay vốn để cải tạo vườn tạp làm cơ sở để Ngân hàng Chính sách xã hội tiến hành các thủ tục giải ngân; quản lí chặt chẽ giống, vật tư đầu vào rõ nguồn gốc, đảm bảo chất lượng, tránh mua giống, vật tư trôi nổi ảnh hưởng đến sản xuất của các hộ thực hiện cải tạo vườn tạp; rà soát tổng hợp, trình UBND tỉnh danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo (bổ sung ngoài kế hoạch số 11/KH-UBND tỉnh ngày 11/1/2021 đã ban hành) theo Kết luận số 200-KL/BCSĐ ngày 26/5/2021 của Ban cán sự Đảng UBND tỉnh bổ sung kế hoạch; phân công các thành viên Ban chỉ đạo phụ trách xã đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của các hộ thực hiện cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ; duy trì chế độ báo cáo tiến độ đúng thời gian, đúng nội dung yêu cầu của chương trình./.

Bản tin KH&CN Hà Giang (số 2/2021)

Tin khác

Cung cấp thực phẩm theo hướng an toàn sinh học (01/09/2021 15:21)

Nghiên cứu xác định vùng trồng và các giải pháp kỹ thuật phát triển cây bạc hà dại và nuôi ong lấy mật tại vùng Cao nguyên đá tỉnh Hà Giang (01/09/2021 14:49)

Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang (07/08/2021 15:11)

Quy trình nhân giống Keo lai (07/08/2021 15:06)

Quản lý dịch hại tổng hợp IPM, giai đoạn 2021 - 2025 (07/08/2021 15:04)

Phytogenics: Chất thay thế kháng sinh trong chăn nuôi (07/07/2021 15:02)

Nghiên cứu phát triển chuỗi cung ứng nông sản sạch của tỉnh Hà Giang (07/07/2021 14:52)

Nâng cao hiệu quả kinh tế từ chè Shan tuyết (07/07/2021 14:49)

Mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2021 - 2025 (07/06/2021 14:46)

Kỹ thuật trồng Nấm Vân chi (07/06/2021 11:03)

xem tiếp